Buôn Mê Thuột "Một địa danh lịch sử"

 

Buôn Mê Thuột
"Một địa danh lịch sử"

Mái nhà rông
                             trê n quê hương "Buồn Muôn Thuở"
LTG: Buôn Mê Thuột là một thành phố có giấc ngủ lâu dài trên dãy Trường Sơn có độ cao 536m, mà cũng là nơi có con số dân cư đông nhất ở Tây Nguyên. Nguyên là vùng địa đàng của hoàng triều và nhà Vua thường xuyên đến đây để nghỉ ngơi, săn bắn. Cách đây chừng hơn thế hệ, thổ ngơi nầy vốn là miền cội rễ của nhà trời từ núi rừng thiêng đến muôn loại heo hùm, chim muông, hoa lá. Cảnh trí đặc biệt thường được thoáng hiện vào những khi có mưa rơi trên tĩnh vật, mà lúc nào như cũng thiên thu đượm một nét buồn...muôn thuở. Và cũng như khi có nắng gió, thì cát đỏ lại tung bay từng lớp bụi...mịt trời. Nhưng cũng có những chàng trai Kinh tâm hồn đa cảm, lãng mạn, một thời vấn vương mối tình bản Thượng nên đã gọi quê hương thứ nhì của cuộc đời mình là xứ bướm...mơ tiên.
 bản Thượng Tây-Nguyên ĐắK-LắK
Theo cuộc cải tổ về hành chánh, địa lý ở Việt-Nam hiện tại thì Đắk-Lắk là một trong những tỉnh có diện tích đất đai rộng lớn nhất trong số 64 tỉnh thành trong toàn quốc. Thổ ngơi, rừng núi nơi nầy ngày xưa từng được mệnh danh là vùng đất Tân-Biên-Cương, mới được sáp nhập vào đất nước người Việt đã hơn một thế kỷ trôi qua, như trường hợp của Chiêm-Thành và Thủy-Chân-Lạp gần hai trăm năm. Đây là một sự kiện rõ ràng cho phép chúng ta có một cái nhìn khai phóng về chân dung của lịch sử đất nước tổ tiên. Vừa chứng minh được sự hiện diện lâu đời, vừa nói lên được cái bản chất trẻ trung của màu sắc trộn pha trong cộng đồng chủng tộc giao lưu trên bán đảo hình cong chữ "S". Chính do thành tố đa nguyên nầy là một đoạn đường dài đầy cam go để dẫn tới sự thông cảm, yêu thương, tình tự dân tộc, đoàn kết giống nòi mà bất cứ mọi người Việt-Nam nào cũng cần phải tỏ ra có tinh thần, khả năng khắc phục.
Chính vì thế, cho dù nếu ở mảng đất nầy ngày nay còn được gọi tên là gì đi nữa chẳng hạn như Ban-Mê-Thuột, hay chính thức như "Buôn-Ma-Thuột" ("Ama Thuot" nguyên là tên của một vị tù trưởng sở tại nầy ngày xưa) hiện nay, thì chữ Buôn-Mê-Thuột không hiểu sao cũng vẫn lại là mấy tiếng thổ âm thân thương quen miệng hằng ngày của đa số đồng bào người Thượng ở địa phương nầy. Cần nói rõ thêm là sau khi thôn tính toàn thể bán đảo Đông-Dương, thì người Pháp lại bắt đầu mở ngõ thuộc địa tiến về miền Cao-Nguyên Trung-Phần. Sau đó, họ áp đặt vùng địa phận Buôn-Mê-Thuột nầy vào vị trí đất đai của Vương-quốc Ai-Lao mãi cho đến đầu thập niên của thế kỷ XX (1904), thì mới trao lại cho người Việt và sáp nhập vĩnh viễn luôn vào lãnh thổ Việt-Nam cho đến bây giờ.
Trong hiện tại, thì tỉnh địa đầu giới tuyến Đắk-Lắk đã chính thức chọn Buôn-Ma-Thuột làm thủ phủ. Và đồng thời, thành phố nầy cũng còn được nâng cấp trở thành đô thị trung tâm của vùng Tây-Nguyên với tổ chức mới lập thành 15 đơn vị hành chánh gồm có thành phố Buôn-Ma-Thuột, thị xã Buôn-Hồ và 13 huyện là: Buôn-Đôn, Cư-Kuin, Cư-M'gar, Ea-H'Leo, Ea-Kar, Ea-Sup, Krông-Bông, Krông-But, Krông-Pak, Lắk, M'drăk, Krông-Ana, Krông-Năng. Nói chung về địa lý toàn tỉnh, thì vùng đất nầy nằm theo sườn phía Tây-Nam của dãy Trường-Sơn với một diện tích núi rừng to rộng có cả một mạng lưới sông suối, ao hồ thiên nhiên trải ra dày đặc phong phú tài nguyên, và hứa hẹn rất nhiều tương lai cho tiềm năng du lịch. Do vậy mà thêm vào đó, là nhờ vào phương tiện giao thông hàng không ngày nay đã được mở mang, tăng cường các chuyến bay lên tận Cao-Nguyên. Cho nên, các tuyến du lịch đã đua nhau đón chào du khách ở khắp mọi phương xa đổ vể thăm Buôn-Mê-Thuột, để cho họ có dịp thích thú ngắm nhìn hình ảnh sinh hoạt của các sắc tộc miền cảnh quang đất đỏ. Đồng thời, cũng để cho họ có dịp thả hồn thưởng thức vào bầu không khí tĩnh lặng thiên nhiên trùng điệp của núi rừng.
Tuy nhiên, người ta cũng có thể đi bằng đường bộ dễ dàng tùy theo lộ trình từ chỗ bắt đầu khởi hành tại địa phương. Nói riêng, là lộ trình đường nhựa thường được sử dụng bây giờ ở từ Hồ-Chí-Minh đến Buôn-Mê-Thuột dài 350 cây số, và trước hết thì phải đi xuyên qua tỉnh lị Bình-Dương. Ngày ngay, đến với Buôn-Mê-Thuột thì trước hết người ta không bao giờ bỏ qua cơ hội nếm qua thử mùi rượu cần vốn là một loại đặc sản văn hóa ẩm thực địa phương, chỉ có thể tìm thấy hương vị cay nồng đặc trưng ở Tây-nguyên Việt-Nam.
Khách du lịch cưỡi Voi qua sông ở Buôn-Đôn
Nào cùng là cũng để có dịp cưỡi voi, thăm các ngôi nhà sàn cổ, ngắm từng cặp bướm tuyệt màu bay đuổi nhau trong buổi sớm mai hoặc nghe tiếng ve kêu suốt cả buổi trưa chiều. Và uống tách cà phê thơm ngon đậm đà của làng cà phê trồng ngút ngàn loại sản phẩm nầy, với đầy hoa trái sum suê, nặng hạt. Riêng tại trung tâm thành phố Buôn-Mê-Thuột hiện đã có cả hàng trăm quán cà phê được mọc ra với lối các kiến trúc khá cầu kỳ, và có phong cách đặc biệt để nhằm thu hút du khách. Ngoài ra, quanh vùng địa lý nơi đây lại còn có cả di tích biệt điện của vua Bảo-Đại, và các hồ nước, thác nước thiên nhiên nên thơ quyến rũ như hồ Lắk, thác Thủy-Tiên, hồ Buôn-Triết, hồ Ea-Kao, vườn quốc gia Yok-Đôn, khu lâm viên Ea-Kao. Và cả các thác nước ở địa phương khác như Dray-Sap, Dray-Nur v.v.
Tuy nhiên, đối với những kẻ xa xứ lâu ngày thì người ta cũng sẽ không sao quên được trong ký ức rõ ràng, đó là một nơi mà ngày xưa từng nổi tiếng có nhiều huyền thoại liêu trai, kỳ bí. Vì rằng vào thời gian quá khứ, hình ảnh của những đồng bào người Thượng Buôn-Mê-Thuột đáng thương ở đây không bao giờ thiếu vắng trong các ngày vui Hội Chợ của người Kinh tại Sài-Gòn cách đây hơn quá nửa chừng thế kỷ. Sắc tộc thiểu số của họ, dạo ấy, thoáng qua được đánh giá như là những con người còn từ thời thuở bán khai, với xiêm y sắc tộc đặc trưng của miền sơn cước rừng xanh.
Nhưng có ai biết đâu rằng, chính quê hương ruột thịt đèo heo hút gió của những đồng bào Thượng nầy là cả một tài nguyên tương lai của dân tộc. Đẹp đẽ, nên thơ, trù phú, góp phần kiến tạo thành hình nên một đất nước Việt-Nam vốn có truyền thống tinh thần khai phóng, mở mang từ bốn ngàn năm lịch sử. Chính vì thế, mà cho dù hôm nay chúng ta đang ở bất cứ nơi đâu, nhưng hễ mỗi khi nghe nhắc đến đồng quê bản Thượng của mình, thì trong lòng không sao tránh khỏi nỗi bồi hồi xúc động, để nhớ ra ngay như một kỷ niệm rất khó phai mờ nằm im trong tiềm thức của người ly hương viễn xứ.
Điển hình sau Đà-Lạt, Buôn-Mê-Thuột là một địa danh ở Tây-Nguyên rất được người ta biết đến nhiều nhất hơn là những thành phố quạnh hiu như Kontum, Pleiku (Gia-Lai) v.v cũng có hồ biếc, suối reo, chim kêu, vượn hú, bóng ma trơi ban đêm lờ lững bên dòng thác đổ. Và thoáng hiện từ xa, là những chòm mây bạc phủ trắng lên trên triền đất đỏ, bao bọc chung quanh bởi lớp lớp rừng xanh bát ngát, nghìn trùng.
Thực vậy, nếu người ta thường bảo, ai lên xứ anh đào đừng quên mang về một cành hoa đẹp, thì đối với Buôn-Mê-Thuột cũng vậy, muốn quên cũng không sao quên được. Những người đã có dịp phiêu lưu đến nơi nầy đều rất khó mà quên được những hình ảnh đẹp thiên nhiên của đồi suối, núi rừng hùng vĩ để mang kỷ niệm đem về vùng thành thị đồng bằng. Cách đây hơn quá nửa chừng thế kỷ, thì Buôn-Mê-Thuột đối với người dân Nam-Bộ là một vùng đất lưu đày, một chốn hoang vu, rừng thiêng nước độc, đầy rẫy những chuyện thần thoại, hoang đường như thư bùa, bỏ ngải, ám hại quỷ thần. Và thực tế, cũng chẳng mấy ai có ý nghĩ mạo hiểm đến đây để chuốc lấy mọi chuyện không lành có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Nhớ lại thời gian đường xưa lối cũ, theo dãy Trường-Sơn chạy dài từ Nha-Trang qua đèo Rù-Rì, ghé quận Ninh-Hòa để tìm mua chùm tré (1)ngồi nhậu lai rai bên bờ suối nóng địa phương. Rồi trở ra tiếp tục lộ trình, đến ngã rẽ Khánh-Dương hướng về Cao-Nguyên Trung-Phần. Và chỉ non vài giờ tùy tốc độ nhanh chậm của bác tài là khách đã đặt gót chân lên thành phố thủ phủ của miền đất đỏ. Sau cơn mưa dầm dứt hột, thành phố Buôn-Mê-Thuột thoáng hiện ra như một bức tranh tĩnh vật, buồn hiu, lạnh lùng. Và cũng giống như người ta đã tìm thấy, bên trong sức sống của người dân bản địa là cả một giấc ngủ triền miên sau dãy núi rừng hùng vĩ. Tuy nhiên, mặc dù vậy nhưng ít có ai ngờ được chính nơi bản Thượng nầy lại là một cái nôi giao lưu văn hóa của nhiều sắc tộc thiểu số có ngôn ngữ, thổ âm không đồng nhất như là: Djarai, Stiêng, Bahnar, Sedang, M'nông, Rahdé v.v. Tại Buôn-Mê-Thuột nầy, sắc tộc người Thượng Ê-Đê chiếm đa số sau người Kinh từ duyên hải, đồng bằng lên đây lập nghiệp.
Hãy khoan nói đến cuộc sống hồn nhiên của người Thượng, mà người Kinh liên đới có trách nhiệm nặng nề trong sứ vụ khai hóa họ với tình nghĩa trăm con một mẹ từ chung bọc trứng Âu-Cơ...Buôn-Mê-Thuột tuy có vị thế nằm giữa lòng đất đỏ Cao-Nguyên nhưng lại là thành phố của người Kinh trên xứ Thượng. Thuở còn là Hoàng-Triều Cương-Thổ, Buôn-Mê-Thuột là nơi săn bắn, nghỉ ngơi lý tưởng của nhà vua Bảo-Đại, mà mới ngày nào ở đây có cội mai già bên bờ hồ Lạc-Thiện hãy còn soi bóng nước dưới trăng xưa. Rừng xanh ở đây lại còn chính là nơi bảo tồn di sản cội rễ của nhà trời từ cỏ cây hoa lá, các loại gỗ quý nhất như huỳnh đàn, cẩm lai, bằng lăng v.v cho đến muôn loại heo hùm.
Biệt điện vua Bảo-Đại
Là quê hương của những đàn voi từ vùng tam biên (Việt-Miên-Lào) khi xưa từng kéo vào đến tận nguồn nước sông Ba, và các bờ suối nhỏ...Dưới thời đất nước vừa mới bị phân ly nơi đây có một lần ông Vua săn voi Ama-Kông, người từng lập nên kỷ lục quán quân về tài săn bắn, đã đánh bẫy được gần ba trăm con voi, trong đó có một con voi trắng. Đối với người Thượng, thì voi trắng là biểu tượng của đỉnh cao quyền lực và đặc biệt có giá trị ý nghĩa rất lớn về mặt tôn giáo thần linh. Do sự có mặt của loài thú quý bạch tượng hiếm có nầy xảy ra vào lúc bấy giờ, mà dạo ấy, có lắm người cho rằng đó là triệu chứng đã báo hiệu điềm lành bền vững lâu dài cho tương lai đất nước sẽ được thái bình hạnh phúc. Và nếu muốn nói thêm về chân dung của ông Vua săn voi giàu có nhất ở buôn Đôn nầy, thì như là cả một câu chuyện huyền thoại hết sức ly kỳ. Vì từ lâu, có tiếng đồn ông Ama-Kông (sống quá trên 105 tuổi) được coi như là một nhân vật đặc biệt cường tráng, hấp dẫn, có thể lực mạnh mẽ phi thường và đã từng chinh phục dễ dàng biết bao nhiêu cô gái miền sơn cước nhờ vào nghệ thuật bí truyền. Nhưng bây giờ, thì người ta mới hiểu ra được phép tăng lực của ông là nhờ vào phương thuốc cải lão hoàn đồng mà ông đã tìm thấy được ở tận rừng sâu trong những dịp săn voi từ mấy chục năm qua. Hiện giờ, trong nhà ông có bày bán cả một quầy thuốc tăng lực kiểu ông uống vô được bà khen đáo để. Và thang thuốc nầy cũng đã được quảng cáo, là có tác dụng hữu hiệu không thua gì phương thức biến chế theo toa thuốc bí truyền nhất dạ lục giao dưới thời Vua Minh-Mạng thuở xưa. Loại dược thảo tráng dương chính gốc ở buôn Đôn nầy hiện đang được phổ biến bày bán thiệt, giả ở khắp mọi nơi, đến nỗi người ta có thể tìm mua dễ dàng trong bất cứ chợ búa nào ở quanh vùng.
Ngoài ra, trong thời gian quá khứ thì địa hình Buôn-Mê-Thuột cũng từng được coi như là một vùng Cao-Nguyên từng mang định mệnh đen tối trong bối cảnh lịch sử chính trị và quân sự của chính thể miền Nam VN, qua cuộc ám sát hụt Tổng-Thống Diệm trong đường tơ kẽ tóc ngày 22-02-1957. Và lực lượng quân sự phòng ngự của Tổng-Thống Thiệu ở thành phố nầy, cũng đã bị thất thủ vào ngày 11-03-1975. Lùi xa hơn nữa, là câu chuyện khá ly kỳ có thể chỉ được ít người lưu ý đến. Đó là thuở Tây-Nguyên còn hoang sơ vào năm 1888, thì tại vùng Đắc-Tô (nay thuộc Kontum) có một ông thực dân thế lực tên là Mayréna tự đứng ra lập quốc xưng Vương có quốc kỳ, in giấy bạc đàng hoàng. Tuy nhiên, sự cố ấy đã bị chính phủ Pháp lúc bấy giờ dập tắt trong thời gian ngắn, làm cho giấc mộng thành lập ra vương quốc Sedang của ông ta không thành.
Ngày nay, với khí hậu thuận tiện, vùng thổ ngơi trù phú Buôn-Mê-Thuột là nơi có đất đai tốt tươi, màu mỡ. Các đồn điền cam, quít, chuối, chanh, trà, hồ tiêu, dâu tằm, cây điều, ca cao, cao su v.v và đặc biệt là cà phê đã được khai thác, mở mang đến con số diện tích đáng kể có thừa khả năng phát triển vượt trội hàng đầu trên thế giới. Và với hương vị thơm ngon đặc trưng của sản phẩm địa phương đã làm cho chất lượng cà phê VN có nhiều lợi thế mạnh mẽ trong cuộc tranh thương về mặt xuất khẩu, để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ ở nước ngoài.
Và cũng giống như trường hợp về địa lý của một "Tây-Ninh tỉnh lẻ biên thùy". Tỉnh Đắk-Lắk ở địa đầu giới tuyến cũng lại là một vùng đất lịch sử có tầm quan trọng đặc biệt về chiến lược an ninh, quốc phòng và quân sự quyết định chiến trường bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Hơn thế nữa, quanh vùng địa phương nầy hiện nay do nhờ trục lộ giao thông thuận tiện hơn ngày trước, cho nên đã có sức hút diệu kỳ rất nhiều du khách thích phiêu lưu từng chọn Buôn-Mê-Thuột để làm bàn đạp trên đường tham quan di tích lịch sử chiến trường xưa ở Tây-Nguyên. (Nơi, mà lúc bấy giờ đã được các phương tiện báo chí truyền thông quốc tế cực kỳ chú tâm theo dõi về tình hình chiến cuộc khốc liệt để chọn làm đề tài thời sự chiến tranh VN và loan tải ra ở hàng đầu). Và có thêm dịp để khám phá những danh lam, thắng cảnh núi rừng ở các nơi lân cận sau nhiều năm dài chiến tranh chấm dứt, đất nước hòa bình. Ngoài ra, thêm vào đó nữa là trong những ngày sau cùng của cuộc chiến tranh xảy ra ở bán đảo Đông-Dương, thì chiến địa Buôn-Mê-Thuột cũng đã từng được coi như là nơi phát pháo đầu tiên để khai mào cho mặt trận tuyến đầu lửa đỏ, chính thức mở màn cho chiến dịch quân sự mùa Xuân đưa đến sư sụp đổ của miền Nam VN được lịch sử cắm mốc vào ngày 30-04-1975.
Nói cách khác, là nếu trong quân sử chiến tranh Việt-Nam kể từ thời bị ngoại xâm đô hộ đã có xảy ra trận địa chiến tại lòng chảo Điện-Biên-Phủ(2) chấm dứt được chế độ bạo tàn của Thực-Dân cai trị, thì gần đây trận đánh du kích chiến trong thành phố Buôn-Mê-Thuột cũng đã được xảy ra và đưa đến sự thống nhất nước nhà.
Nhưng chúng ta nên trở về với hình ảnh Buôn-Mê-Thuột ngày xưa của người Thượng để hòa mình thông cảm cho đời sống chơn chất, thiếu muối, thiếu thuốc men và thiếu cả văn minh của họ để hiểu thêm rằng cuộc sống vật chất, xa hoa của chúng ta cũng chưa hẳn thực là lý tưởng ở đời!
Có cảnh thiên nhiên lý thú nào đẹp đẽ quyến rủ cho bằng, khi chính mình được dịp mục kích những hình ảnh đơn sơ, đầy hạnh phúc, thanh bình của cả dân làng bản Thượng đang tắm rữa, nô đùa dưới dòng suối nước mát trong lành mà không một mảnh vải che thân. Ở đây, mỗi dòng suối là một hòn đảo "Ile du Levant" (3)  của Địa-trung-Hải và người ta có thể nói không sai như vậy. Vào những buổi bình minh vừa ló dạng ở chân trời và rặng trâm bầu hãy còn say ngủ dưới sương mai, thì tất cả dân làng đều thức dậy mang gùi kéo nhau ra rừng làm rẫy. Khi băng ngang qua dòng suối ở bìa làng, thì họ thường trầm mình tắm rữa một cách tự nhiên không che đậy. Và đó cũng là những hình ảnh quen thuộc của buổi chiều về ...
Ảnh minh họa
Có những đêm dài qua ánh lửa bập bùng soi sáng góc rừng khuya, tiếng khua chiêng, đập cồng lại nổi vang lên dồn dập báo hiệu cho Ngày Hội Lớn ở trong buôn. Và đó, thường là những dịp cúng tế thần linh hay cưới gả gái trai theo chế độ mẫu hệ vẫn được còn tồn tại cho đến bây giờ. Trong những buổi tiệc liên hoan như vậy, món rượu cần được coi như là một thứ ẩm thực không thể thiếu vắng theo nghi thức cổ truyền của người bản địa. Thật là thú vị biết bao bên cạnh vò rượu cao quá nửa thân người, tay cầm ống hút dài cả thước thò vào bình rồi rút ra từng ngụm men rượu cần cay nồng vào miệng. Chưa hết, sau đó lại còn tiếp tục chuyền tay nhau thưởng thức một điếu thuốc lá tập thể để nhả ra từng đợt khói quyện lên cao. Trong lúc say sưa, thì họ thường trầm ngâm thả hồn theo tiếng nhạc khèn của người nghệ sĩ núi rừng trỗi lên góp vui văn nghệ.
Người Thượng ở nhà sàn tập thể cùng với họ hàng, gia tộc. Phần trên nhà sàn là nơi ăn chốn ở, đưới đất thì chăn nuôi gia súc trong điều kiện thiếu hẳn vệ sinh. Họ có tục cắm nhành cây ở trước cửa nhà khi có chuyện buồn bã, khổ đau xảy ra mà không muốn tiếp khách đến viếng thăm quấy rầy. Hoặc họ còn có lệ khác là treo càng nhiều sừng trâu nơi thang gác cửa trước để chứng tỏ sự có của trong gia tài. Ngoài ra, tục lệ cà răng căng tai hiện nay tuy không còn được bảo tồn nữa, nhưng cũng hãy còn rất ít người phụ nữ theo xưa, là thích đeo đồ trang sức quá nặng kéo chằng hai lỗ tai dài ngang gần tầm với những chiếc kiềng đeo ở cổ. Hai cườm tay họ thường lúc nào cũng có quấn những chiếc vòng kim loại bằng đồng. Cùng với những bộ chén dĩa nung đất v.v, các đồ trang sức nầy được họ không quên chôn vào trong các nấm mồ khi có dịp mai táng thân nhân mệnh một đi về cõi thế giới thần linh.
Nhà sàn ở Tây-Nguyên
Ở vùng rừng núi rậm rạp, dốc đá cheo leo hiểm trở khiến cho điều kiện giao thông, di chuyển khó khăn. Vì thế, cho nên người ta thường thấy người Thượng thường hay đi theo hàng một theo lộ trình quanh co khúc khuỷu mỗi khi ra đồng làm việc nương rẫy. Và cũng tại những cánh đồng lúa, ngô, khoai được canh tác theo phương thức nông tang cá thể nầy, hình ảnh của họ lại có dịp in trên nền trời sơn cước với vẻ hiền lành, mộc mạc trong những tấm chân dung ẩn hiện qua làn khói lam chiều theo tập quán mỗi khi ra đồng thường hay nhóm lửa. Câu chuyện thần thoại về chú khỉ Ramayana tuy thực tình không được nghe nói đến một cách rõ ràng trong đầu óc người Thượng như trường hợp của các sắc dân Khờ-Me, Nam-Dương v.v. Nhưng những mẩu chuyện xưa, tích cũ nặng mang màu sắc liêu trai của họ đều có đề cập đến vai trò của các nhân vật Tề-Thiên Đại-Thánh bùa phép thần thông đã từng xả thân bảo vệ xóm làng.
Hồi đó, họ không có đủ áo quần để mặc, và đó cũng là hình ảnh của một sự kiện thực tế dù rằng có sự trùng hợp với bản tánh tự nhiên của họ là thích ở trần. Kể cả phái nữ cũng vậy, khi còn tuổi thanh xuân thì thích ở trần khoe bộ ngực nở nang đang độ tuổi dậy thì, nhưng khi có chồng con rồi thì họ lại mặc áo che đậy lại và ra vẻ ý tứ hơn. Người Thượng hãy còn nhiều mê tín dị đoan, mà khó lòng giáo hóa được họ thức tỉnh trong một sớm chiều. Tuy nhiên, không phải vì thế mà tâm hồn của họ thiếu sự rung cảm chân thành trong tình yêu thương làng mạc và cả con người. Đối với tập quán buôn làng, họ không muốn thấy có ai quấy rầy cuộc sống hồn nhiên, chất phác quen thuộc từ ngàn xưa truyền lại. Nhưng trên thực tế từ phía bên kia của rặng Trường-Sơn, thì họ cũng không hề bao giờ quay lưng với cộng đồng dân tộc người Kinh trong tinh thần đoàn kết anh em, cảm thông kết tình bè bạn. Để chung lưng đâu cật, một lòng quyết tâm xây dựng nên hình ảnh bản làng ngày thêm khởi sắc. Do vậy, mà trong các cuộc trường tình yêu đương nồng nàn, thắm thiết của từng lớp thế hệ hòa nhịp con tim, thì họ đã lần hồi đốt cháy cả bức tường thành ngăn cách lâu đời, để không trễ hẹn cùng hướng dắt tay nhau đi vào thế giới tương lai. Và thực hiện điều ước mơ hạnh phúc.
Trở về với Buôn-Mê-Thuột trước đó hằng thập niên dài, thì những bản Thượng Tây-Nguyên nầy cũng còn là một địa danh đặc biệt, mà các nhà văn thường dùng làm đối tác đề tài để viết về tiểu thuyết đường rừng khi dựa vào những sự kiện lịch sử địa phương được coi như là huyền bí. Quả vậy, quá trình sinh tồn của các sắc tộc thiểu số hiện đang sống trên đất nước Việt-Nam từ vùng thượng du Cao-Bắc-Lạng cho đến miền đồng bằng Châu-Đốc, Hà-Tiên có quá nhiều phong tục của năm mươi bốn tập quán dị biệt. Nhưng nếu muốn nói thêm về điều kiện địa lý, thì đất đai của người Thượng ở Tây-Nguyên có thể nói rằng nơi đây là một kho tàng hãy còn giấu kín, tuy không còn nguyên vẹn tiềm năng nhưng hãy còn phảng phất nét hoang dại cổ sơ của rừng sâu bí hiểm.
Dạo ấy, thử một dịp nào khách đến chơi làng Thượng đến quá nửa khuya, thì làm sao mà có thể dám trở về nhà trong bóng đêm dày đặc giữa cơn gió lùa rét lạnh thấu xương, không một tiếng chim muông, vắng lặng. Và chỉ được nghe giọng âm thanh rầu rĩ của muôn loại côn trùng, của từng tiếng dế nỉ non hoặc tiếng hú vang rừng từ xa vọng lại. Dù ai có to gan lớn mật lớn mật đến đâu thì cũng phải biết sợ rắn rết, sợ beo, sợ cọp nếu không biết sợ ma! Nhất là cọp ở đây nổi tiếng rất bạo dạn, dám về cả tận buôn bắt người, bắt thú ăn thịt giữa ban ngày và vẫn còn tiếp tục dài dài vãng lai quấy nhiễu đời sống của đồng bào Thượng ở tại nơi nầy. Để đề phòng tai nạn hổ báo đó, cho nên người Thượng có thói quen thường hay đeo giáo mác trên vai và luôn luôn ở vào tư thế đề cao cảnh giác trong mọi trường hợp.
Thế nhưng nếu họ tránh được nạn cọp tha, thì họ cũng lại dễ dàng bị ma bắt...bệnh, đúng theo sự tìm hiểu và nhận định của người Kinh. Là đời sống của người Thượng Buôn-Mê-Thuột ngày xưa lúc nào cũng được gắn liền với huyền thoại của bùa ngải rừng thiêng và nước độc. Ở đây, chuyện bùa ngải rừng thiêng là một đề tài thường có tánh cách nói về mê tín dị đoan xã hội, nhưng đối với trường hợp nhu cầu như nước uống thì lại là một vấn đề sức khỏe, vệ sinh nan giải. Chúng ta phải hiểu rằng dưới lòng đất đỏ nhão nhoẹt, phì nhiêu, trù phú ở Tây-Nguyên là một lớp đá cứng mà có nhiều nơi không thể dễ dàng đào giếng tìm mạch nước như nhiều người lầm tưởng. Do vậy, trong các chiến dịch uống nước trong lành của những chương trình y tế nông thôn, thì lúc nào người ta cũng khuyến khích người dân vùng Buôn-Mê-Thuột hãy cố gắng đào giếng sâu tìm mội nước thanh khiết sử dụng...Nhưng trở về với nếp sinh hoạt thực tế cổ truyền, thì họ (người Thượng) cũng đành phải dùng nhiều những trái bầu tiên để hứng nước từ trong các khe đá chảy ra mà uống. Còn công việc thường nhật như tắm rửa, giặt gỵa, thì họ cứ ung dung tận dụng dòng nước thiên nhiên của ta, có nghĩa là cứ ra bờ suối mà tha hồ xài.
Thác Dray K' Nao ở Krông Jin- M' Drắk
Người Thượng có tập quán xây dựng buôn làng theo kinh nghiệm của tổ tiên gia truyền để lại, là cất nhà sàn dọc theo dòng suối chảy. Điều nầy, có nghĩa là nếu buôn nào ở phía dưới dòng suối thì sẽ bị lãnh đủ mọi cặn bã dơ dáy do người dân bản làng ở phía trên dòng suối thải ra và cứ thế mà tiếp tục ... Chính vì vậy, cộng thêm vào vấn đề nước (uống) độc và dòng suối dơ đó, là tình trạng muỗi mòng, con nào con nấy thân lớn, chân cao, chích vào người là có thể gây ra bệnh sốt rét. Và hễ mà mỗi lần bệnh nhân bị sốt rét cơn, thì đầu óc của những con người quanh năm sống gần gũi thiên nhiên không biết thuốc men cứu chữa, đành phải quay lại tin vào thế giới của bùa ngải rừng thiêng để trừ tà, xua ma đuổi quỷ. Sự kiện nầy chứng minh cho người ta hiểu rõ, vì sao hồi trước đa số đồng bào Thượng lại có cái bụng bự, tức là bị mắc bệnh chói nước.
Nghĩa địa treo rợn người ở Tây-Nguyên
Tuy nhiên, còn nếu nói về mặt khác thì họ cũng có những cái đặc ân, để cho người Kinh chúng ta để chút thì giờ suy nghĩ về hình ảnh cuộc sống yên lành, hạnh phúc với lòng dạ thật thà của họ không cần bận tâm đến thực tế của ngày mai. Có lẽ họ cũng biết, là quê hương cha ông của họ để lại ở đây không thể có những cảnh tượng như rừng vàng biển bạc bao la hiểu theo như ý nghĩa là "nhứt phá sơn lâm, nhì đâm hà bá". Nhưng chắc chắn có điều mà họ biết rất rõ, là chung quanh bản làng họ thường có những dấu chân nai, hươu, cheo v.v tới lui bén mảng vào những dịp trăng về. Ngoài ra, còn có những loại thú như heo rừng, thỏ rừng, vượn, khỉ v.v mà lâu lâu họ đều săn bẫy được và đặc biệt là các chuột rừng lớn con, thịt ăn ngon không thua gì thỏ, khỉ. Đối với họ, chuột là một loại đạo tặc đáng ngại, vì trong một đêm gia đình nhà họ chuột có thể kéo đến ăn hết cả giạ trong bồ lúa vừa mới gặt xong đem về. Nhưng dù sao, mối lo đầu mùa của họ thì lúc nào cũng lại là các loại thú như heo rừng và vượn, khỉ trước tiên làm hư hại mùa màng.
Kể chuyện cho nhau về những màu sắc, âm thanh quái đản của vùng núi rừng Buôn-Mê-Thuột ngày xưa, mà nếu quên gợi lại ký ức trong một buổi bắt bướm, săn chim ở trong rừng già, thì đó quả là một điều thiếu sót lớn lao. Ngoài những cuộc tổ chức đi săn các loại thú bốn chân xảy ra trong những giờ phút hồi hộp, ngoạn mục và lý thú, thì trước hết, tưởng cũng nên xin nhắc lại là ở tại miền Nam Việt-Nam. Nhất là ở tại địa phận tỉnh Cần-Thơ ngày trước khi dân cư còn thưa thớt, thì còn có những cánh rừng chồi, những vườn trái cây sum sê, rậm rạp mà dân địa phương gọi đó là sân chim nằm trong một diện tích đất đai rất lớn. Nơi đây, chính là quê hương lý tưởng cho các loài chim muông đã tìm được tổ ấm, đất lành chim đậu, nhưng chim ở đây phần đông là những loại chim thường như se sẻ, sáo, diều, én, cò, vạc v.v.
Loài chim quý
Trái lại, trong các giống chim từ khu thung lũng miệt A-Lưới, A-Sao cho đến tận rừng sâu Buôn-Mê-Thuột, thì ngoài các loại chim quý như công, trĩ, phượng, két, cú mèo v.v. Người ta còn tìm thấy có những loài chim Hồng-Hoàng, Cao-Các thân hình chễm chệ với màu sắc tuyệt đẹp, không những có dấp dáng như một viên oanh trung trẻ mà còn có cả thêm diện mạo của một vị tướng công văn võ song toàn. Và nếu bạn không phải là một người thợ săn chuyên nghiệp, thì đầu óc của bạn cũng khó có thể nào nỡ xuống tay hạ sát hay đánh bẫy cho được một con chim quý dưới khung cảnh nên thơ, đẹp đẽ thần tiên như vậy được.
Cách đây hơn ba mươi năm, tác giả đã có dịp du hành theo tổ chức Safari-Photo tại xứ Kenya với những ngày sống gần gũi hoa ngàn cỏ nội. Trong suốt lộ trình chiêm ngưỡng thiên nhiên với cả hồ rộng, sông dài, thú vật bốn chân như sư tử, tê giác, hươu cao cổ, beo, voi, hà mã, cá sấu v.v cùng với các muôn loài chim xinh đẹp sống chung trong một diện tích rừng núi mênh mông, đất trời giáp mặt. Thực tình, tác giả cũng chỉ thấy có những con chim sắc lông tươi tốt, phảng phất uy nghi đến thế là cùng. Điều nầy, có nghĩa là chúng ta muốn nói ở xứ Việt-Nam nếu thời gian qua không bị chiến tranh tàn phá, thì cũng không thiếu chi cầm thú chim muông ở trong rừng đã góp phần tô điểm cho giang sơn gấm vóc của quê hương.
Bầy hươu cao cổ ở châu Phi
Trả lại thú tiêu dao bắt bướm, hái hoa nơi xứ Thượng thường dành cho lứa tuổi trẻ thơ ham chơi hơn là ham học, đầu óc thường có cả một thế giới thần tiên vô hình, giàu tưởng tượng. Còn thêm, có những buổi ra đi đánh bẫy chim trời bằng lưới (bắt sống) hay dùng ná (giàn thun) hạ sát những con chim để đem về nướng thịt. Những ngày đánh bẫy, săn chim như vậy thường được thực hiện vào buổi tốt trời. Trên con đường mòn đưa lối, năm ba người cứ thế mà đi, khi gặp được chim đậu ở cây cao thì cứ giương ná lên mà bắn. Những hòn sỏi nhắm vào mình con chim mà lao tới, và hễ cứ mỗi khi bắn trật, là chim kia như được dịp sống lại lần thứ hai của cuộc đời. Tuy nhiên, cái việc khi giết hay đánh bẫy được một con chim không phải là điều quan trọng đối với chuyện quá quen mắt của đồng bào Thượng. Ngược lại, chính cái thú đi tìm cảm khái nhẹ nhàng của một người Kinh được dịp mục kích (lúc theo chân đoàn người săn bẫy) khi bước ngang qua những bụi sim rừng tím nhạt, những lạch suối reo hò chảy ra từ trong khe đá tung bọt trắng phau, những hình ảnh con nhím xòe lông, miệng nhồm nhoàm gặm rễ cây (dược thảo) chậm chạp chui vào khóm trúc không buồn quay lại v.v mới đúng là điều đáng nói...Mai đây trở lại kinh kỳ, cọ xát với cát bụi thành đô, hít thở bầu không khí ô nhiễm môi sinh, đâu còn thấy được cái cảnh mưa rơi qua kẽ lá, nắng đổ chứa chan sưởi ấm trên đồng vắng hoang vu, tĩnh mịch. Và đặc biệt, là những làn gió núi ở đâu về hôn trộm trên đôi má mịn màng của người sơn nữ yêu kiều trong chiếc thắt lưng xanh.
Theo tổ chức hành chánh thì Buôn-Mê-Thuột là một thị xã nằm trong tỉnh Đắk-Lắk. Nơi mà ngày xưa có những tiếng gọi nên thơ như là "bướm mơ tiên" hay "bụi mịt trời" trong một quê hương thấp thoáng nỗi sầu tư với tiếng vọng bi ai của núi rừng "buồn muôn thuở", mà qua những lời truyền khẩu xác thực là vùng đất có màu, chó leo thang, bò gõ mõ và người có...đuôi.
Con đường đất đỏ quanh hiu ở BMT ngày xưa
Đất có màu (đỏ), thì ai ai cũng biết khi xưa nơi đây là vùng núi lửa (riêng ở Bà-Rịa, Long-Khánh v.v, hiện nay cũng còn có những vùng có đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ). Nhưng chó leo thang, là vì người Thượng ở nhà sàn cho nên khi muốn vào thì phải bước lên những nấc thang cây. Còn bò gõ mõ, là do tiếng kêu của những thanh gỗ treo vào cổ chúng để báo hiệu cho biết vị trí của con thú đang ở nơi nào trong rừng rậm để sở hữu chủ dễ đi tìm. Đặc biệt, khi nói đến cái đuôi, thì tức là ám chỉ đến cái khố vải hồi xưa của người đàn ông có hai mối đầu thả lòng thòng xuống dưới.
Chính người Thượng đáng mến yêu của chúng ta là ở chỗ đó.
Chất phác, hồn nhiên, vô tư lự là những đặc tính cố hữu của các sắc tộc bán khai. Tuy nhiên, trong quan niệm về tình yêu tuổi trẻ hay nói cho đúng hơn là giữa người và người (viết hoa) thì mỗi tâm hồn đều giống như nhau cả. Đọc hai câu thơ nổi tiếng của một anh chàng thi sĩ đa tình người Thượng:
Khi anh ra đi, thì cây cải chia thành cánh bướm
Nay anh trở về, áo con nít phơi đầy ngoài sân
thì chúng ta sẽ thấy rằng, mối tình thất vọng của một chàng trai không được cô gái ghé mắt xanh vì bởi lý do trong tập tục mẫu hệ của cộng đồng xã hội người Thượng, thì người vợ...cưới chồng. Tuy nhiên, nếu muốn nói về mặt thật của tiếng sét con tim trong thế giới yêu thương tràn ngập ái tình! Chúng ta sẽ thấy rằng, đi thực tế cũng có những loại chứng từ đã được trưng ra bằng hình ảnh tâm sự thiết tha, cuồng nhiệt của tuổi thanh xuân, để muốn vượt qua giới hạn ràng buộc của tập tục biên cương đối với một người con gái Thượng...thua trận trước dấp dáng lãng mạn, đa tình say đắm của một chàng trai Kinh đầy nhựa sống:
Lần ấy dưới trăng xưa
Yêu biết mấy cho vừa
Thẹn thùng em đã hứa
Ngày mai Xuân sẽ về...
Thôi anh đừng buồn nữa
Ngày nay vui sướng rồi
Khăn đây tặng cho anh
Dệt bằng tấm lòng thành
Thư nầy em mới viết
Chữ tình gởi cho anh...
Trong tổ chức sinh hoạt tại bản làng hẻo lánh bên ngoài thành phố Buôn-Mê-Thuột, thì trước kia họ cũng có những Khóa-Buôn (già làng) trên hình thức để tiếp xúc giữa các sắc tộc, hoặc để làm trung gian giao thiệp về hành chánh với người Kinh khi hữu sự. Vào thời kỳ chưa thống nhất nước nhà, thì quê hương đất đai trù phú của cộng đồng người Thượng ở Tây-Nguyên cũng đã có đóng một vai trò ảnh hưởng vô cùng quan trọng trong tầm nhìn chiền lược về địa bàn kinh tế xã hội, để di dân đến đây lập nghiệp. Tuy nhiên, chúng ta chỉ tiếc có một điều là thành phố nầy đáng lẽ phải giới thiệu lên được cái hình ảnh của người dân sơn cước, thì lại phải bị ảnh hưởng hóa nếp sống văn minh bởi các di dân người Kinh tràn ngập đến từ ở phương xa. Do vậy, những tiếng thổ âm thân thương như "Y" (4)và "Hờ" (5)  ngày nay đều đã được hầu hết tất cả đồng bào giao lưu hòa đồng sử dụng rất phổ thông ở tại địa phương. Vì thực ra, đối với quan niệm nhân sinh xã hội của họ từ lâu thì Buôn-Mê-Thuột là một địa danh của núi rừng Tây-Nguyên nằm trong lòng đất đỏ Trung-Phần. Hơn thế nữa, vào những thập niên sau cùng, địa lý quanh vùng Buôn-Mê-Thuột lại phải bị đối đầu với nguy cơ xuống cấp thiên nhiên trầm trọng trước thảm họa "sa mạc hóa cao nguyên". Nguyên nhân vì nạn phá rừng của các phong trào Tây tiến (Conquête de l' Ouest) của các đợt di dân ào ạt ở từ khắp các mọi nơi đổ về khai thác bừa bãi đất đai để trồng trọt cà phê, cao su v.v. Rồi cộng thêm vào sự kiện chảy máu tài nguyên thiên nhiên đó, là do nạn lâm tặc hoành hành và do tình trạng nhân mãn, kinh kế mà người dân địa phương thường xuyên lén lúc phá rừng làm nương rẫy. Cho nên, tình trạng nầy nếu không được quy hoạch chận đứng kịp thời, thì chỉ cần thêm một thời gian ngắn nữa thôi, thì cảnh quang quanh vùng sơn cước Buôn-Mê-Thuột sẽ bị thay đổi môi trường sinh thái, tác động tiêu cực đến không gian xã hội, văn hóa bản địa. Và có nguy cơ, là sẽ bị mất hết tất cả những cái gì để có thể được gọi là thiên nhiên, hoang dã. Lễ hội hằng năm tại BMT
Ngày nay lịch sử đã sang trang, đồng bào Thượng yêu mến của chúng ta ở núi rừng Tây-Nguyên (nói chung) và ở Buôn-Ma-Thuột (nói riêng) đã hết sức lấy làm hãnh diện và tự hào. Vì nhờ vào ảnh hưởng không gian sinh động của khí cụ âm nhạc truyền thống cồng chiêng của họ, hiện đã được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là di sản của nền văn hóa phi vật thể của nhân loại, cần phải được vĩnh viễn bảo tồn (6)
Nhạc cụ Tây-Nguyên
Và song song đó, là cuộc sống của họ theo tập quán văn minh cũng đã được lần hồi hội nhập dễ dàng mau lẹ. Dẫu sao, thì mặc dù giờ đây trong giai đoạn kinh tế khó khăn toàn cầu khiến cho điều kiện kinh tế địa phương chưa có thể cải thiện mau lẹ để tự cất cánh vươn mình, nhưng cũng hãy còn sót lại số ít có những con người hồn nhiên, vô tư lự. Họ lại tiếp tục an phận cuộc sống đắm chìm thêm vào trong những ngày dài, bên cạnh những đồng hương sắc tộc người Thượng khác có ý thức cầu tiến văn minh, biết năng nổ cựa mình thức giấc để hòa đồng vào xã hội. Và họ đã thành công tốt đẹp trong quyết tâm xây dựng tương lai, khi cố gắng vươn mình dấn thân đóng góp phúc lợi an sinh vào cho bản Thượng, hầu mong sáng tạo được làn sinh khí mới để cải thiện cuộc đời.
Tuy nhiên, đối với tất cả những con người xa xứ lâu ngày có tâm hồn hoài vọng cố hương nhưng từ lâu chưa từng có dịp trở về thăm lại làng xưa phố cũ để nhìn thấy rõ nét văn minh về sự đổi thịt thay da của đô thị trung tâm Tây-Nguyên nầy. Thực tế, bây giờ nó đã và đang ngày càng phát triển không ngừng theo nhịp quay của nhu cầu xã hội ở vùng địa lý núi rừng bằng với những dãy nhà cao tầng được kiến thiết, tân trang chạy dài theo từng con đường. Cùng các quán ăn nhậu, đồ chơi điện tử, siêu thị, xe cộ qua lại đông đảo tạo thành một cảnh quang nhộn nhịp, khởi sắc với nhiều hứa hẹn ở tương lai.
Ngã sáu ở trung tâm thành phố BMT ngày nay
Do vậy, có thể cho dù họ vẫn biết nhưng vì trong quá khứ hãy còn vấn vương bao kỷ niệm vui buồn đầy ấn tượng. Cho nên, đối với họ, thì Buôn-Mê-Thuột lúc nào cũng hãy còn được giữ lại ở trong lòng bằng với những hình ảnh của thời quá khứ khi nơi đây hãy còn dáng vẻ hoang sơ, hiu quạnh.
...Nhớ thương Buôn-Mê-Thuột thuở ngày xa xưa ấy! Nhớ những cô gái yêu kiều áo quần sặc sỡ, tuổi độ xuân thì thẹn thuồng mắc cỡ. Nhớ các em thiếu nhi bạc phước, đơn sơ, thiếu thốn phương tiện học hành, tính tình hồn nhiên thơ dại (7)  Nhớ tương lai, sức sống của những người trai không được khai hóa văn minh. Nhớ các cụ già cần có thuốc men, hiền lành, mộc mạc, suốt cả ngày đêm dưới gió mát trăng trong trong từng giờ, từng phút, từng giây của cuộc đời lúc nào cũng âm thầm đón nhận hương vị của một tiết trời Xuân ấm áp ở tâm hồn bằng với những niềm suy tư lặng lẽ. Và có rất ít khi họ cần phải tìm đến giá trị của thời gian để nghĩ xa hơn về ý nghĩa của giấc điệp Nam-Kha đối với số kiếp bèo bọt của thế nhân như ảo ảnh, phù du. Vậy có phải chăng âu đó cũng là định mệnh đã sắp đặt sẳn, không những cho riêng từng các con người mà còn cho cả những mảnh địa dư và phong thổ ở mỗi vùng miền?
Anh là người Bắc?
Chị là người Trung?
Tôi là người Nam?
...còn đồng bào Thượng của mình ngược dòng xa xưa thì phải chịu cảnh cô liêu sống ở mãi trên triền Tây-Nguyên đất đỏ, và hồn nhiên bên tiếng nhạc của nhịp đàn đá, đàn T'rưng!(8)  Ôi! Đẹp lành thay, biết nói làm sao cho hết tình yêu nầy! Xin ân cần lưu lại mấy dòng tâm sự gió mây, nhân dịp đến độ đón Xuân sang ở tha phương thương mến gởi trao về tận chốn làng xưa phố cũ.
Biết...mình thôi!
Chưa đủ!
Việt-Nam gấm vóc, linh thiêng. Hình hài xứ sở mỹ miều. Tổ quốc ngàn năm cách xa nghìn dặm của chúng ta còn có thêm nhiều những núi cao, đồng rộng, sông dài, mỗi miền một vẻ. Nhưng Buôn-Mê-Thuột thủy chung cũng lại là một cái tên thơ mộng của rừng xanh lịch sử, thật rất khó phai mờ trong kỷ niệm đẹp của quê hương, đất nước mến yêu. Và vì hoàn cảnh đặc biệt về địa lý, nhân văn, cho nên màu sắc trầm lặng của không gian lúc nào như cũng thiên thu nặng mang một mối tình buồn...muôn thuở.
Tuy nhiên, những dấu ấn thân thương, sâu đậm cảm hoài da diết ấy cho dù đã có dịp trải dài khá lâu theo dòng chảy của thời gian, nhưng hiện nay dù muốn dù không thì màu sắc không gian đó cũng tự nó đã bị phai mờ, biến dạng không còn nữa. Để thay vào đó, là bằng với những hình ảnh về bản sắc mới của con người bản địa, ảnh hưởng thời sự, và xã hội thực tế đang vươn mình về phía tương lai đầy hứa hẹn ở nơi nầy.
Đặc biệt hơn, là giờ đây đối với tầm nhìn chiến lược trong quân sử của thế giới bên ngoài, thì địa danh Buôn-Mê-Thuột đã chính thức được coi như là một chiến trường lịch sử quyết định cuối cùng đánh dấu khai mào cho sự chấm dứt giai đoạn chiến tranh (1945-1975) ở trên toàn cõi bán đảo Đông-Dương.
Chú thích:
(1) - như một loại nem ở miền Nam.
(2) - địa danh Điện-Biên-Phủ là một chiến trường lớn nhất ở Đông-Dương, đã kết thúc được một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành độc lập phân chia hai miền Nam-Bắc VN, với sự đầu hàng của tướng Christian de Castries vào ngày 7/5/1954. Và trận thảm bại của quân đội thực dân Pháp ở tại nơi đây vào lúc bấy giờ, đã chính thức cáo chung chế độ thuộc địa của đế quốc nầy sau gần một trăm năm đô hộ Việt-Nam. Và điểm đặc biệt cần phải được ghi chú thêm, là sau ba mươi năm (1984) đại thắng Điện-Biên-Phủ, thì chiến công lừng lẫy của vị tư lệnh chiến trường nầy đã được các nhà nghiên cứu về quân sử trên thế giới đánh giá về các danh tướng kiệt xuất của Việt-Nam từ xưa cho tới nay đã có tới hai vị. Đó là Nguyên-Soái Trần-Hưng-Đạo, và Đại-Tướng Võ-Nguyên-Giáp.  
(3) - đảo khỏa thân ở Côte d' Azur tại Pháp.
(4) - chỉ phái Nam.
(5) - chỉ phái Nữ.
(6) - không gian văn hóa cồng chiêng Tây-Nguyên đã được tổ chức UNESCO chính thức công nhận vào ngày 15/11/2005 là một kiệt tác truyền khẩu phi vật thể của nhân loại.
(7) - người Thượng ăn bốc và ngày trước dùng văn tự khoa đẩu (sanscrit).
(8) - thêm một vùng đất đỏ hoang vừa được dấu chân người khai phá tìm ra bộ đàn đá Goong-Lú (người M'nông gọi chiêng đá là Goong-Lú) ở tại xã Phú-Xuân, huyện Krông-Năng,Đắk-Lắk vào tháng hai năm 2011.
Mai Lý Cang
Theo http://chimvie3.free.fr/

"NGƯỜI TRƯỚC, SÚNG SAU".

 "NGƯỜI TRƯỚC, SÚNG SAU".

Đây là tuyên bố chấn động cả nước lớn của Đại tướng Phan Văn Giang. Vì sao các nước lớn phải chú ý đến phát biểu của Tướng Phan Văn Giang ở Shangri-La 2022?
Với bài phát biểu hùng hồn của Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang, Việt Nam tái khẳng định lập trường nhất quán về không liên minh quân sự, chỉ duy trì nền quốc phòng mang tính tự vệ và nỗ lực hiện đại hóa Quân đội, trang bị vũ khí tiên tiến vì “mục đích hòa bình” và tự phòng thủ.
Việt Nam thấu hiểu sự tàn phá của chiến tranh
Trong khuôn khổ Đối thoại Shangri-La 2022 vừa qua, tại phiên thảo luận “Hiện đại hóa quân sự và năng lực quốc phòng”, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có bài phát biểu quan trọng, rất đáng chú ý với chủ đề “Tăng cường khả năng quốc phòng bảo vệ Tổ quốc”.
Những tuyên bố cứng rắn nhưng vẫn rất mềm dẻo, khéo léo của lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam một lần nữa nêu bật quan điểm, lập trường của Việt Nam về đối ngoại quốc phòng, về đường lối giao bang với các nước trong bối cảnh xung đột địa chính trị ngày càng gay gắt như ngày nay.
Mở đầu bài phát biểu, Đại tướng Phan Văn Giang đã chân thành cảm ơn Bộ Quốc phòng Singapore và Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế đã đem tới cơ hội dự và phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 19 cho lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Theo Bộ trưởng Quốc phòng, chúng ta đã và đang chứng kiến một thế giới, với nhiều diễn biến, biến động khó lường. Trong khi các vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng xảy ra nhiều hơn, hậu quả nặng nề hơn, đòi hỏi cộng đồng quốc tế cần chung tay góp sức để ứng phó thì các vấn đề an ninh truyền thống còn nhiều phức tạp, có nguy cơ xảy ra ở một số nơi, một số khu vực.
Tướng Giang lưu ý, trong khi xu thế hòa bình, hợp tác phát triển luôn là mong muốn chung của nhân loại, thì cạnh tranh chiến lược, mâu thuẫn, xung đột lợi ích, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa các quốc gia vẫn tiếp tục xảy ra.
Do vậy, theo người đứng đầu Bộ Quốc phòng Việt Nam, việc nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình thực sự là đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc.
Nhắc lại triết lý rằng, xưa nay, sinh tồn luôn là bản năng của tự nhiên và của con người, Đại tướng Phan Văn Giang cho biết, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia.
“Việt Nam đã trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh tự vệ nên thấu hiểu sự tàn phá và hậu quả của xung đột, bạo lực”, - tướng Giang bày tỏ.
Theo Bộ trưởng, suốt dọc chiều dài lịch sử, dân tộc Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tự vệ, chịu nhiều đau thương, mất mát. Cho đến tận ngày nay, khi chiến tranh đã lùi xa gần nửa thế kỷ, những hậu quả và di chứng chiến tranh để lại vẫn còn là một gánh nặng đối với đất nước. Việt Nam thấu hiểu giá trị của hòa bình, mong muốn duy trì và quyết tâm gìn giữ hòa bình đất nước, quyết tâm bảo vệ độc lập, tự do, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc.
# CTM

CÔNG GIÁO-HỦY DIỆT NỀN VĂN MINH NHÂN LOẠI VÀ NHỮNG THÀNH TÍCH TÀN SÁT LƯƠNG DÂN

 IV.- NHỮNG CON SỐ NẠN NHÂN BỊ SÁT HẠI TRONG NHỮNG TRƯỜNG HỢP RIÊNG BIỆT

Con số trên 250 triệu nhân bị Giáo Hội sát hai trên đây rải rác từ năm 325 cho đến một vài năm trước khi sử gia Lloyd Graham biên soạn xong cuốn Deceptions and Myths of the Bible vào năm 1999. Dưới đây là một vài con số nạn nhân bị Giáo Hội sát hai theo từng biến cố đã được các sử gia sử sưu tầm và công bố.

1.- Con số nạn nhân bị sát hại trong thời kỳ mấy chục năm sau khi Hội Nghị Nicaea nhóm họp vào ngày 20/5/325. Theo ông Chalrie Nguyễn con số nạn nhân trong thời kỳ này vào trên 3 ngàn người. Xem lại Chương 3 ở trên:

2.- Con số giáo sĩ và tín đồ Ki-tô Do Thái bị Giáo Hội La Mã sát hại sau vụ tàn sát những tín đồ Ki-tô theo phe Giám-mục Arius. Không ai biết rõ con số nạn nhân này là bao nhiêu. Trong cuốn The Decline And Fall of the Roman Church, cựu giáo-sĩ Martin Malachi có nói về thảm cảnh của họ như sau:

“Họ cố gắng để tồn tại cho đến mấy chục năm đầu của thế kỷ thứ 5. Rồi thì họ biến mất từng người một. Một số thì nhập vào Giáo Hội La Mã – luôn luôn là tư cách cá nhân, không bao giờ có trường hợp cả cộng đồng hay toàn thể các nhà thờ Kitô Do Thái. Một số khác lẩn vào trong khối người theo nghi lễ mới của Giáo Hội Đông Phương - người Syriac, người Assyrian, người Hy Lạp, người Armenian. Nhưng rất nhiều ngươi đã chết, chết vì lưỡi gươm (của quân lính La Mã truy lùng họ như những hạng người sống ngoài vòng pháp luật), chết đói (vì bị tước đoạt mất ruộng đất để sinh nhai và không thích nghi được với cuộc sống ở các nơi đô thị). Một yếu tố khác nữa là sinh suất của họ lại giảm xuống tới số không. Vào khi tiêu sử của ông Jesus (khác hẳn với Phúc Âm) được viết bằng tiếng Trung Hoa và lưu hành ở Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ 7 thì không còn tín đồ Kitô Do Thái tồn tại nữa và “dòng dõi bà con của Chúa” cũng không còn nữa. Khắp mọi nơi, Giáo Hoàng La Mã đều ra lệnh phải tôn trọng và hành sử quyền hành.” Nguyên văn: “They managed to survive until the first decades of the fifth century. Then, one by one, they disappear. A few individuals reconcile themselves with the Roman Church – always as individuals, never communities or whole Jweish Christian churches. Another few pass into anonymity of the new Eastern rites – Syriac, Assyrian, Greek, Armenian. But most of them die – by the sword (Roman garrisons hunted them as outlaws), by starvation (they were deprived of their small farms and could not or would not adapt themselves to life in the big cities) by the attrition of zero birthrate. By the time that the first biography of Jesus (apart from the Gospel) is published in Chinese and in China at the beginning of the seventh century, there are no more surviving Jewish Christians. The desposyni have ceased to exist. Everywhere, the Roman pope command respect and exercises authority.” [9]

3.- Con số nạn nhân bị sát hại vì những cuộc chém giết thanh toán lẫn nhau để giành chiếm ưu thế và ngôi vị giáo chủ trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 325 cho đến ngày nay. Không ai biết chắc con số nạn nhân này lên đến bao nhiêu triệu hay bao nhiêu ngàn. Xem danh sách giáo hòang trong cuốn Vicars of Christ , chúng ta thấy có tới 37 ông ngụy giáo hoàng (anti-pope). Như vậy là trong lịch sử Giáo Hội, ít nhất là có tới 37 lần các ngài mang chức thánh trong hàng giáo sĩ cao cấp trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội chia phe lập đảng chém giết và thanh tóan lẫn nhau để tranh giành ngôi vị Mấy bản văn lịch sử dưới đây trích ra từ sách Vicars of Christ cho chúng ta thấy rõ sự kiện này:

"Khi có cuộc họp của một số đông các tu sĩ của Giáo Hội La Mã thì địa điểm nhóm họp phải là nơi gần sông hay hồ lớn để liệng xác người (bị thanh toán) xuống đó. Hồ Constance đã tiếp nhận tới hơn năm trăm xác người (bị thanh toán); Con sông Rhine cũng là nơi tàng chứa rất nhiều bí mật." Nguyên văn :“When the clergy met in large number, it was always wise to choose a town near water – lake or river – for disposing of the bodies. Lake Constance received over five hundred while the Council was in ssession; the Rhine, too, hid many secrets.[10] .

Cũng trong sách Vicars of Christ, nơi trang 11, có đọan văn sau đây:

"Họ băng qua con sông Tiber, con sông mà trong nhiều thế kỷ đã được sử dụng vừa làm cống rãnh tiêu thụ rác rưởi của Kinh Thành Rome vừa làm mồ chôn người không chính thức. Có lẽ, ngoài Trung Hoa ra, Tiber là con sông có nhiều xác người nhất bị nhận chìm trong một ngày. Sáng hôm nay, dòng sông này lờ đờ mang mầu xám giống như màu áo của một giáo sĩ Franciscan." .["They cross the Tiber, which for centuries served the city as both sewer and and unofficial cemetery. Probably Tiber has claimed more lives than any river ouside China; thousands have drowned their in a day. This morning, it is sluggish and brown as the habit of a Franciscan."[11]

"Sự thù nghịch bộc phát thành những cuộc chiến đấu đá nhau thường xẩy ra vào khi có giáo hoàng qua đời. Thi dụ, khi (Giáo Hoàng) Liberius (352-366) chết vào năm 366, giáo triều chia làm hai phe, mỗi phe chọn một người của phe mình lên kế vị. Ursinus là giáo hoàng của một phe và Damasus là giáo hoàng của phe khác. Sau khi đánh nhau ở ngoài đường phố, phe Ursinus yếu thế, chạy vào trong nhà thờ St Mary Major (thường gọi là Thánh Đường Đức Bà Bạch Tuyết) rồi đóng cửa lại tử thủ. Phe Damasus tiến tới, trèo lên nóc nhà thờ đục lỗ, rồi dùng ngói và đá liệng xuống tấn công phe Ursinus. Đồng thời, một toán khác của phe Damasus tấn công vào trong qua cửa chính. Khi lọt được vào trong, hai bên ra sức chém giết lẫn nhau liên tiếp trong ba ngày. Cuối cùng, có tới 137 xác chết khiêng ra ngoài. Tất cả xác chết này đều là người của phe Ursinus. Ursinus bị bắt cho đi sống lưu vong, nhưng tội ác ở trong thánh đường Mary Major là vết nhơ trong thời Giáo Hoàng Damasus mãi mãi vẫn còn ghi trong sách sử." Nguyên văn: “Bitter rivalries often showed themselves on the death of a pope. For example, when Liberius (352-366) died in 366, two factions elected a successor. Ursinus was one pope. Damasus was the other. After a lot of street fighting, Ursinus ‘ followers locked themselves in the recently completed basilica of St Mary Major, known as “Our Lady of Snow”. Damasus’ supporters climed on the roof, made a hole in it and bombarded the occupants with tiles and stones. Others meanwhile were attacking the main door. When this caved in, a bloody fight ensued for three days. At the end of it, 137 bodies were carried out, all of them followers of Ursinus. Ursinus was sent into exile by the emperor’s representative, but the crime in Mary Major was a permanent blot on Damasus’ copybook.”] [12]

4.- Con số nạn nhân bị tàn sát trong hai trăm năm thập tự chiến. Cuộc chiến tôn giáo này là do Giáo Hòang Urban II (1088-1099) phát động vào năm 1095 đem quân lính Gia-tô tiến vào vùng Cận Đông àn sát các dân tộc theo đạo Hồi và Chính Thống Giáo, rồi tiến vào miền Nam nưóc Pháp tàn sát giáo phái Cathari (cũng thờ ông Jesus nhưng không chịu khuất phục Giáo Hội La Mã). Không ai biết rõ con số địch thực là bao nhiệu triệu nạn nhân. Theo sách Công Giáo Chính Sử, con số nạn nhân bị Giáo Hội tàn sát trong các cuộc chiến này lên tới 20 triệu:

"Tín điều về sự đầy đọa vĩnh viễn là tín đồ của những kẻ ác ôn. Hãy nghĩ tới hàng ngàn trẻ con và những người vô tư mà đời sống của họ chất đầy ảm đạm. Những giáo lý này phải trải phủ trái đất với những đống xương vàng của những người dị giáo và học giả. Chúng ta thấy sự đàn áp ngoại đạo của Constantine, Clovis, Justinian, Theodosius và Charlemagne; chúng ta thấy những cuộc thánh chiến trong đó có tới 20 triệu người bị giết; chúng ta thấy sự tàn sát bừa bãi đàn ông, đàn bà, trẻ con ở Jerusalem bởi Godfrey..."[13]

5.- Con số nạn nhân bị các tòa án dị giáo sát hại.- Cho đến ngày nay, chưa ai biết chắc con số nạn nhân bị các Tòa Án Di Giáo của Giáo Hội La Mã tra tấn, gây thương tật và sát hại là bao nhiêu triệu người. Sách Smokesecreens được biên soạn và phát hành vào năm 1983 (năm này Giáo Hoàng John Paul II chưa mở kho mật hàm cho các nhà viết sử đến tham khảo) cho biết là con số nạn nhân trong thời kỳ các Tòa Án Dị Giáo của Tây Ban Nha hoạt động (1232-1820) là 68 triệu:

"Chỉ nội trong thời kỳ thi hành chương trình Inquisition ở Tây Ban Nha, Giáo Hội La Mã đã tra tấn, gây thương tật và sát hại là 68 triệu, và nhiều nạn nhân này cũng là những người Thiên Chúa Giáo tin tưởng vào Thánh Kinh." Nguyên văn: “The Roman Catholic Institution tortured, maimed and murdered 68 million people during the Spanish Inquisition alone, and many these were Bible-believing Christians"[14]

Ngoài con số 68 triệu nạn nhân trên đây, còn bao nhiêu chục hay trăm triệu nạn nhân khác nữa ở ngoài tầm tay của chính quyền Tây Ban Nha, nhưng vẫn nằm trong ách thống trị bạo tàn của Tòa Thánh Vatican mà chúng ta chưa biết được. Nhờ việc kho mật hàm của Giáo Hội (Vatican' secret Archives) mới được mở cho các nhà viết sử đến tham khảo, trong tương lai rất gần, sẽ có những ấn phẩm mới nói về chuyện này. Khi đó nhân dân thế giới sẽ được biết rõ hơn về con số nạn nhân bị Giáo Hội La Mã sát hại và mức độ tàn ác của Tòa Thánh Vatican như thế nào.

6.- Con số nạn nhân bị chế độ đạo phiệt Gia-tô Bloody Mary sát hại tại Anh quốc trong những năm 1553-1558.- Chúng ta biết rằng ngày nay đại khối dân tộc Anh theo Anh giáo hoàn toàn biệt lập với Giáo Hội La Mã. Đây là một sự thực của lịch sử. Tuy nhiên, trước khi đi đến tình trạng như ngày nay, nhân dân Anh cũng phải trải qua một thời kỳ khốn đốn với nhà cầm quyền cuồng tín muốn Gia Tô hóa toàn dân Anh bằng bạo lực. Dưới đây là những bản văn lịch sử nói về nữ bạo chúa Bloody Mary cùng với phe cánh tín đồ cuồng tín của Vatican sử dụng bạo lực cưỡng bách nhân dân Anh phải theo đạo Gia Tô. Sử gia Thomas P. Neil viết:

"Mary đã được khuyến cáo là nên đối xử tử tế với những người đã bỏ đạo Gia Tô, nhưng vây cánh bên cạnh bà vô cùng quá khích, cương quyết chống lại những người tà giáo. Trong thời gian 5 năm tại vì của bà, có tới khoảng ba trăm người bị hành hình vì tín ngưỡng của họ khác với đạo Gia Tô…Thực ra, Nữ Hòang Mary không tệ hơn các nhà cầm quyền đồng thời với bà, nhưng vì chính sách bách hại những người khác tôn giáo của bà gây nên cuộc phản kháng chống lại bà và chống lại đạo Ki-tô La Mã. Các nhà viết sử đặt cho bà biệt danh là "Bloody Mary" (Mụ Mary khát máu)" Nguyên văn: "Mary was advised to be lenient with those had left the faith. The queen was not personally inclined to be severe, but many of her subordinates went to extrems against "heretics." About three hundred were executed for their anti-Catholic beliefs during her reign..... Mary was no worse than other rulers of the time, but the persecution caused a reaction against the queen and Catholicism, and historians soon dubbed her "Bloody Mary." [15]

7.- Con số nạn nhân người Pháp bị sát hại trong các cuộc quân thập tự Pháp tấn công những tín đồ Tin Lành trong các thế kỷ 16 cho đến ngày 26 tháng 7 năm 1830 (ngày chế độ đạo phiệt Gia-tô Charles X bị nhân dân Pháp vùng lên đap đổ). Không ai biết rõ con số nạn nhân trong thời kỳ này là bao nhiêu triệu. Chỉ nội trong đêm 22/8/1572, đã có hơn tám ngàn người bị sát hại. Chuyện dã man này được sách Smokescreens này ghi lại như sau:

“Ngày 22-8-1572 ( Nhiều sách khác ghi là ngày 24/8./1572 chứ không phải là ngày 22/8/1572.) bắt đầu xẩy ra một cuộc tàn sát đẫm máu ở nhà thờ St. Bartholomew. Đây là một trong những vụ tàn sát ghê gớm để tiêu diệt phong trào Tin Lành ở Pháp. Pháp Hoàng đã khôn khéo sắp đặt cuộc hôn nhân giữa người em gái của nhà vua với Đô Đốc Coligny, một nhân vật lãnh đạo của Tin Lành. Một bữa tiệc lớn được tổ chức ăn mừng lễ cưới. Sau bốn ngày, quân lính của tân lang Coligny được cho ăn uống no say, một hiệu lệnh được ban hành. 12 giờ đêm hôm đó, tất cả nhà cửa của những người Tin Lành ở trong thành phố đều bị bắt buộc phải mở cửa. Đô Đốc Coligny bị giết. Thi hài của ông bị liệng qua cửa sổ ra ngoài đường. Thủ cấp của ông bị cắt đem gửi cho giáo hoàng. Hai cánh tay và bộ phận sinh dục của ông cũng bị cắt. Rồi chúng lôi kéo phần còn lại của xác chết đi khắp các đường phố cả ba ngày trời. Sau đó, chúng treo ngược cái xác chết không đầu, không tay, không bộ phận sinh dục ở một nơi ngoại ô thành phố. Đồng thời, chúng còn tàn sát nhiều người Tin Lành khác nữa. Trong 3 ngày, hơn mười ngàn dân Tin Lành (ở Paris) bị giết hại. Những xác chết này bị liệng xuống sông và máu nạn nhân lênh láng chẩy thành dòng ra tới tận cửa sông giống như một dòng máu. Trong cơn hung hãn này, chúng có thể giết cả những người đồng đạo của chúng nếu nạn nhân bị nghi ngờ là không mạnh tin vào Giáo Hoàng. Từ Paris, bịnh dịch tàn sát vì lòng cuồng tín như vậy lan tràn ra khắp nơi trong nước Pháp. Tính ra có tới hơn tám ngàn nạn nhân bị sát hại. Rất ít người Tin Lành thoát khỏi tai họa trong cơn hung hãn của chúng." Nguyên văn: "On August 22, 1572, the bloody St. Bartholomew massacre began. This was to be one fatal blow to destroy the Prostestant movement in France. The King of France had cleverly arranged a marriage between his sister and Admiral Coligny, the chief Protestant leader. There was a great feast with much celebrating. After four days of feasting the soldiers were given a signal. At twelve o'clock midnight, all the houses of the Protestants in the city were forced open at once. The admiral was killed, his body thrown out of a window into the street where his head was cut off and sent to the pope. They also cut off his arms and privates and dragged him through the streets for three days until they finally hung his body by the heels outside the city. They also slaughtered many other well kown Protestants. In the first three days, over ten thousands were killed. The bodies were thrown into the river and blood ran through the streets into the river until it appeared like a stream of blood. So furious was their hellish rage that they even slew their own followers if they suspected that they were not very strong in their belief in the pope. From Paris, the destruction spread to all parts of the country. Over eight thousand more people were killed. Very few Pretestants escaped the fury of their persecutors.")[16]

8.- Con số người Phi Châu bị tàn sát và bị bắt đem sang Mỹ Châu bán làm nô lê.- Cho đến ngày nay, không ai biết rõ có bao nhiêu triệu dân Phi Châu bị tàn sát và bị bắt cóc đem sang Mỹ Châu bán làm nô cho người Da Trắng ở Mỹ Châu. Các học giả mới tìm ra con số nạn nhân bị bắt đem đi bán cho người ta làm nô lệ ước chừng là 60 triệu. Sự kiện này được sách Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm ghi lại như sau:

"Sau khi chiếm được Mexico, thực dân Tây Ban Nha và tu sĩ nhà thờ lập nên các đồn điền và các khu khai thác mỏ và biến thổ dân thành nô lệ. Từ thê kỷ 16 đến thế kỷ 19, thực dân đến Phi Châu bắt cóc người da đen đem đến Mỹ Châu khỏang 60 triệu người để tăng cường nhân lực nô lệ cho các đồn điền và hầm mỏỏ. Ngay từ những năm đầu của cuộc xâm lược vào Mexico, riêng một mình Herman Cortez đã chiếm 250 héc ta đồn điền và làm chủ 200.000 (200 ngàn) nô lệ da đỏ!" [17]

9.- Con số người da đỏ bị tàn sát và bị bắt làm nô lệ.- Thực ra, cho đến nay, người viết chưa tìm thấy con số đích thực là có bao nhiêu triệu người da đỏ bị sát hại và bị cưỡng bách làm nộ lệ, Trong bài viết Tản Mạn Về Ngày Lễ Tạ Ơn đăng trên www.giaodiem.com tháng 11 năm 2001, Giáo-sư Trần Chung Ngọc cho biết con số người Da Đỏ ở Bắc Mỹ trong vòng 270 năm tính từ năm 1620, giảm từ 15 triệu xuống còn có 250 ngàn người (bị giảm đi mất 14 triệu 750 ngàn người). Dưới đây là đọan văn trong bài viết trên đây nói về thảm trạng này:

"Tại sao ở Mỹ lại có ngày lễ tạ ơn Thiên Chúa? Đó là vì cách đây vài trăm năm, những người Anh đầu tiên đến vùng Plymouth, tiểu bang Massachusetts, đã thoát được nạn đói mùa đông 1620-21, tin rằng Thiên Chúa đã giúp họ cho nên họ đã đọc kinh cầu nguyện để tạ ơn Thiên Chúa. Thực ra thì chính dân da đỏ đã cung cấp thức ăn cho họ trong mùa Đông đó. Và sau khi lấy lại sinh lực, dựa trên ưu thế của súng ống trên cung tên, họ đã trả ơn người da đỏ bằng cách đi cướp hết đất đai của người da đỏ và thi hành chính sách diệt chủng đối với người da đỏ và cưỡng bách người da đỏ phải theo cái đạo cao quý cầm đầu bởi Chúa lòng lành vô cùng của họ. Từ đó cho đến năm 1890, trong vòng 270 năm, những con cái của Chúa đã giảm dân số dân da đỏ từ 15 triệu xuống còn dưới 250000, và biến miền đất phì nhiêu của dân da đỏ thành "Tân Thế Giới" của người da trắng, do người da trắng (Christophe Columbus) tìm ra. Nhiều người da đỏ ngày nay nuốt nước mắt, không biết làm gì hơn là uống rượu để giải sầu." [18]

10. Con số nạn nhân bị chế độ đạo phiệt Gia-tô Ante Pavelich sát hại.- Trong những 1941- 1945, chế độ đạo phiệt Gia-tô này đã sát hại khỏang từ 700 ngàn đến 800 ngàn người trong những chiến dịch "làm sáng danh Chúa". Hầu hết nạn nhân là tín đồ Do Thái Giáo và Chính Thống Giáo. Sự kiện này được sử gia Avro Manhattan ghi lại trong cuốn The Vatican Holocaust như sau:

"Trong thời kỳ Croatia là quốc gia độc lập và lấy đạo Gia Tô làm quốc giáo, có trên 700 ngàn đàn ông, đàn bà và trẻ em bị giết hại. Nhiều người bị hành hình, bị tra tấn, bị bỏ cho chết đói, bị thiêu sống cho đến chết. Hàng trăm người bị cưỡng bách phải theo đạo Gia Tô (Thiên Chúa La Mã). Các ông linh-mục của Giáo Hội La Mã làm quản giáo tại các trại tù tập trung; nhiều tu sĩ khác của Giáo Hội là sĩ quan trong các đơn vị quân đội đã phạm tội ác tàn bạo. 700 ngàn trong tổng số dân có mấy triệu người tức là khoảng 1/3 dân số bị các đoàn lính dân quân Gia Tô giết hạiNguyên văn: “During the existence of Croatia as an independent Catholic State, over 700,000 men, women and children perished. Many were executed, tortured, died of starvation, or burned to death. Hundreds were forced to become Catholic. Catholic padres ran concentration camps; Catholic priests were officers of the military corps which committed such atrocities. 700,000 in a total population of a few million, proportionally, would be as if one-third of the USA population had been exterminated by a Catholic militia.” Avro Manhattan, The Vatican’s Holocaust (Springfield, MO: Ozark Book, 1986) p. VII. [19]

Trong tác phẩm Vietnam, Why Did We Go?, tác giả viết:

"Ante Pavelich, người lãnh đạo mà cũng là người chủ mưu và tạo nên quốc gia Croatia độc lập theo đạo Gia Tô. Ông ta đã dùng chính sách khủng bố cũng như tinh thần cực đoan về chính trị và lòng cuồng đạo với tất cả những tàn bạo hơn cả hai nhà độc tài bảo trợ cho ông ta là Benito Mussolini và Adolf Hitler. Trước khi nước Nam Tư bị phân hóa, ông ta là người chủ mưu trong vụ ám sát vua Alexander (của nước Nam Tư) và các vụ giết hại các nhà chính trị khác. Nhờ vậy mà ông ta đã tạo nên được quốc gia Ustashi Croatia độc lập siêu Gia Tô giáo và thiết lập một chế độ độc tài siêu hơn cả chế độ độc tài Đức Quốc Xã. Ông ta được Giáo Hoàng Pius XII che chở và giúp đỡ bằng các phương tiện ngoại giao và tài chánh nhằm để đạt được cứu cánh của Giáo Hội La Mã. Khi quốc gia Ustashi Croatia sụp đổ (vào đầu năm 1945), Pavelich chạy vào ẩn trốn ở trong Tòa Thánh Vatican, rồi giả dạng như là một tu sĩ. Sau đó, ông ta trốn sang nước Á Căn ĐìnhNguyên văn “Ante Pavelich, the inspirer, creator and leader of the independent Catholic state of Croatia. He employed terrorism, political extremism and religious fanaticism with such ruthlessness as to outsmart even his two main fascist protectors, Beneto Mussolini and Adolf Hitler. He was the brain behind the assassination of King Alexander and other political murders which preceded the disintegration of Yugoslavia and thus the erection of his super-nazi, super-Catholic independent Ustashi Croatia. He enjoyed the protection of Pope Pius XII, who helped him via diplomatic and monetary means to achieve his ultimate objective. When Ustashi Croatia collapsed, Pavelich hid in the Vatican, then, disguised as a monk, fled to Argentina.") [20]

11.- Con số nạn nhân bị chế độ đạo phiệt Da-tô Ngô Đình Diệm sát hại trong những năm 1954-1963.- Cho tới nay, cũng chưa có sử gia nào công bố con số nạn nhân đích thực bị cả chính quyền đạo phiệt Gia-tô Ngô Đình Diệm sát hại trong những năm 1954-1963 và con số những người dân lương bị các ông lãnh chúa địa phương là tu sĩ và tín đồ Gia-tô cũng như những tín đồ Gia-tô nắm giữ những chức vụ chỉ huy trong quân đội ở miền Nam trong những năm 1954-1975 khi đi hành quân đã "phóng tay" tàn sát dân lành chỉ vì họ không phải là tín đồ Gia-tô. Người viết căn cứ vào ba nguồn tài liệu khả tín khác nhau xin ghi lại nguyên văn dưới đây:

Trước khi nói đến con số nạn nhân bị bạo quyền Ngô Đình Diệm giết hại và cầm tù, thiết tưởng chúng ta nên nhớ lại lời ông Ngô Đình Nhu, em ruột của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cũng là người nắm quyền chủ chốt thi hành kế hoạch Inquisition tại Việt Nam thời bấy giờ, đã từng tuyên bố:

"Tôi có cả một chương trình, đã bàn tính kỹ với Đức Tổng Giám Mục (Thục) là sẽ lần hồi tiến tới chỗ mà Hội Truyền Giáo hoạt động một thế kỷ mới đạt tới. Còn chúng ta chỉ cầm quyền mười năm thôi là cả Miền Nam này sẽ theo Công Giáo hết" [21] .

Lời tuyên bố trên đây cho chúng ta thấy rõ cái mực độ tàn ác trong chính sách Gia Tô hóa của bạo quyền Ngô Đình Diệm. Tàn ác như thế nào? Xin mời quý vị theo dõi mấy bản văn lịch sử dưới đây do các nhà viết sử ghi lại thì sẽ rõ.

a.- Trước hết, chúng ta hãy theo dõi bản văn do Linh-mục Trần Tam Tỉnh viết:

"Mùa hè 1955, Ngô Đình Diệm tung ra chiến dịch Tố Cộng và qua luật 10-1959, ông đã lập các Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt như một bộ máy đàn áp. Luật này, kết án tử hình và phải thi hành trong vòng ba ngày, khỏi có quyền bào chữa, tất cả những người Cộng Sản, những người có quan hệ với Cộng Sản (những chiến sĩ yêu nước chống Pháp, cả cha mẹ và bạn bè của họ), tất cả những bị cáo được xem là phạm đến an ninh quốc gia. Các cuộc càn quét đã dẫn về hàng ngàn "tên đỏ", từ nay gọi là Việt Cộng và nhiều người trong đó đã bị giết...Trong lãnh vực này, tài liệu bí mật của Lầu Năm Góc (Bộ Quốc Phòng Mỹ - NMQ) cũng giống như những gì do chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phổ biến hồi đó: "Suốt thời gian của cái gọi là Chiến Dịch Tố Cộng được tung ra vào mùa hè năm 1955, từ 50 ngàn đến 100 ngàn người đã bị nhốt vào ngục. Nhưng như bản báo cáo có nói, phần lớn những kẻ bắt giam đây không phải là đảng viên Cộng Sản". Đó là lời của F. Butterfield viết trong bản phân tích Tài Liệu Lầu Năm Góc. Tác giả còn thêm: "Chương Trình Công Dân Vụ đã thất bại, bởi vì Tổng Thống Diệm hầu như chỉ phát toàn những nguời di cư miên Bắc hay là Công Giáo đến các làng đó. Nông dân cho rằng những thứ người ó không phải là người của họ (Pentagon Papers, tr 82)[22]

b- Nhà viết sử Avro Manhattan viết trong sách "Vietnam why did we go?" như sau:

"Từ năm 1955 đến năm 1960 có ít nhất là 24 ngàn người bị thương, 80 ngàn người bị hành hình hay bị giết hại, 275 ngàn người bị bắt điều tra và giam giữ, và 500 ngàn người bị đưa đi các trại giam giữ tập trung" [23] .

c.- Sách Đảng Cần Lao viết:

"Ngồi tại Dinh Độc Lập, Ngô Đình Diệm có ngờ đâu em mình đã nhân danh Đảng Cần Lao Nhân Vị mà nhúng tay vào máu một cách khủng khiếp đến thế. Số người mà tại Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn và Khánh Hòa… đã bị cán bộ Cần Lao giết vì bị vu cho là Cộng Sản, phá hoại chế độ… đã được kiểm kê vào các năm 1964 và 1965 là 300,000 (300 ngàn) người!" [24]

Căn cứ vào những tài liệu trên đây và căn cứ vào những thành tích giết người của Giáo Hội, căn cứ vào thành tích tàn sát những người thuộc các tôn giáo khác của tín đồ Gia-tô người Việt vào thời trước năm 1954 và căn cứ và thành tích giết người của Giáo Hội La Mã ở Rwanda (Phi Châu) vào năm 1994 gần đây (sẽ được trình bày đầy đủ ở mục kế tiếp), chúng ta có thể kết luận rằng con số nạn nhân ở miền Nam Việt Nam bị sát hại bởi chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa (và sau đó bởi những tín đồ Gia-tô cuồng tín có quyền lực ở trong tay) chắc là lên đến hơn 300 ngàn người.

12.- Con số nạn nhân bi Giáo Hội La Mã sát hại ở Rwanda (Phi Châu) vào năm 1994.- Chỉ trong vòng 100 ngày trong năm 1994, chính quyền đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục Augustin Misago tại Rwanda đã sát hại tới hơn 800,000 (8000 ngàn) những người thuộc các tôn giáo khác. Dưới đây là một số tài liệu nói về thảm trạng này.Trước hết bản tin phổ biến vào ngày 5/ 11/ 2000 trên mạng http:/www.vietnamdaily.com loan truyền như sau:

up to 800,000 Tutsis were killed by Hutu militia using clubs and machetes, with as many as 10,000 killed each day

"Tin Quốc Tế.- Giám Mục Thiên Chúa Giáo Có Thể Bị Tử Hình Tại Rwanada: Kigali, Rwanda (TH).- Một công tố viên nói hôm Thứ Tư là ông đã yêu cầu lên án tử hình một giám mục Thiên Chúa Giáo La Mã về tội diệt chủng trong năm 1994 liên hệ tới các vụ tàn sát ít nhất nửa triệu người, gồm cả nhiều người bị chém tại các nhà thờ nơi họ chạy vào lánh nạn.

Giám Mục Augustin Misago, 56 tuổi, là chức sắc đầu tiên của Giáo Hội bị truy tố về tội diệt chủng liên hệ tới các cuộc tàn sát sắc dân thiểu số Tutsis trong 90 ngày. Giám Mục kêu vô tội về tội cáo buộc diệt chủng và các tội chống nhân loại.

Trong vụ xử gây căng thẳng quan hệ giữa Rwanda và Tòa Thánh Vatican, Giám-mục Misago bị cáo buộc đã đẩy ba linh mục và trên 10 học sinh tới chỗ chết vì không cho họ tá túc trong giáo xứ của giám mục.

Kết từ phần buộc tội hôm Thứ Ba, công tố viên Edward Kayihura cũng yêu cầu Giám-mục Misago và chính phủ bồi thường 93,750 Mỹ kim cho các gia đình nạn nhân.

Các cuộc tàn sát bắt đầu hồi tháng 4/1994, khi ấy Giám-mục Misago là chức sắc cao cấp nhất của Giáo Hội ở giáo xứ Gikongoro nơi hàng chục ngàn người bị giết. Giám mục Misago là chức sắc cao cấp nhất của Giáo Hội Thiên Chúa Giáo trong số trên 20 linh mục và nữ tu bị truy tố về tội diệt chủng. Hai linh mục đã bị kết án tử hình.

Các cuộc tàn sát chấm dứt với chiến thắng của Mặt Trận Ái Quốc Rwanda do sắc dân Tutsi lãnh đạo lật đổ chính phủ của sắc dân Hutu.

Trên 125,000 can phạm diệt chủng bị tù tại Rwanda. Trên 1500 người đã được đưa ra tòa xét xử và 300 người bị án tử hình." [25]

Rwanda là một quốc gia tí hon. Diện tích vỏn vẹn chỉ có 26,338 cây số vuông, và dân số là 8,196,000 (vào năm 1995) trong đó 65% theo đạo Kitô La Mã. Vốn là hai vùng đất Rwanda và Burundi cùng bị Đức chiếm làm thuộc địa từ thập niên 1890. Đức là quốc gia bại trận trong trận Đệ Nhất Thế Chiến. Năm 1919, Hội Quốc Liên cho hợp nhất hai vùng đất này thành xứ Rwanda và giao cho nước Bỉ (theo đạo Kitô La Mã) quản trị. Vì thế mà tín đồ Kitô La Mã lên tới 65%.

Về con số nạn nhân Tutsis bị chính quyền đạo phiệt Da-tô tàn sát trên đây, ký giả Joe Lauria của tờ The Boston Globe ghi nhận là 800 ngàn người. Bài báo của ký giả này với tựa đề là "U.N.'s inaction blamed for Rwanda killingsU.S. Belgium also criticized in report on 1994 genocide in African country" được tờ The News Tribune (Tacoma) số ra ngày Thứ Sáu 17/12/1999 đăng lại như sau::

"New York: Vì Liên Hiệp Quốc đã không quan tâm đến những lời cảnh cáo nhắc đi nhắc lại về nạn tàn sát người tập thể diến ra ở Rwanda vào năm 1994, khiến cho 800 ngàn người Tutsisi và Hutus ôn hòa bi sát hại trong vòng chưa đầy 100 ngày. Đây là bản báo cáo của một ủy ban độc lập vào ngày Thứ Năm (vừa qua).

Bản báo cáo nói rằng, cộng đồng thế giới đã không ngăn chặn thảm trạng diệt chủng này và cũng không ngăn chặn cái nạn này ngay từ khi nó bắt đầu xẩy ra. Sự việc này bắt nguồn từ "sự thiếu tài nguyên và thiếu ý chí chính trị" cả trước và sau khi thiểu số người Hutus tiến hành việc tàn sát người Tutsus khởi đầu từ ngày 6 tháng 4 năm 1994.

Các chuyên viên điều tra nói rằng, ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan, người cầm đầu lực lượng duy trì hòa bình, Hoa Kỳ và Bỉ, tất cả đều phải chịu trách nhiệm về việc không chặn đứng thảm trạng giết người diệt chủng này. Bản báo cáo cho rằng Hoa Kỳ đã đặt vấn để tốn phí cho lực lượng duy trì hòa binh lên trên việc cứu sồng sinh mạng con người và tố cáo Bỉ đã triệt thoái quân đội quá mau, bỏ rơi hai ngàn người ở trường kỹ thuật và để mặc cho nhiều người bị sát hại.

Bản báo cáo ghi nhận lần thứ hai trong vòng hai tháng rằng Liên Hiệp Quốc nhìn nhận đã thất bại, không thể chặn đứng được thảm trạng tàn sát tập thể này mà đáng lý ra có thể ngăn chặn được. Trong một bản báo cáo nội bộ vào tháng 10, Liên Hiệp Quốc đã nhận trách nhiệm về thảm trạng tàn sát hầng ngàn tín đồ Hồi giáo người Bosnia trong năm 1995 ở Srebrebia, thuộc xứ Bosnia.

Trong lời tuyên bố hôm Thứ Năm (vừa qua), ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Annan nói rằng, "cả hai bản báo cáo - một của riêng tôi và một của ủy ban độc lập điều tra ở Rwanda - phản ảnh sâu xa sự quyết tâm trình bầy sự thật về những thảm trạng này." Ông đã yêu cầu cho điều tra vụ thảm sát ở Rwanda vào tháng 3. Ban điều tra bắt đầu làm việc vào tháng 6. Ủy ban này do Thủ Tướng Ingvar Carlson của nước Thụy Điển làm trưởng ban. Bản báo cáo dày 58 trang nói rằng lệnh của Hội Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc ban hành cho lực lượng duy trì hòa bình ở Rwanda không đầy đủ và những điều ghi trong đó không được rõ ràng. Bản báo cáo cũng nói rằng các viên chức Liên Hiệp Quốc kể cả ông Tổng Thư Ký Annan đã không hành động gì sau khi nhận được bằng chứng rõ ràng về vụ diệt chủng có kế họach rất là chu đáo, và ông cựu trưởng đòan Liên Hiệp Quốc Boutros Boutros -Ghahi đã không thông báo cho Hội Đồng An Ninh biết về tín tức này.

Trong lời tuyên bố vào hôm Thứ Năm, ông Tổng Thư Ký Annan thú nhận rằng Liên Hiệp Quốc đã khoanh tay đứng nhìn trong khi thảm trạng diệt chủng dưới một hình thức thuần túy là tội ác ghê gớm nhất xẩy ra." Tất cả chúng tôi đềi cảm thấy hối hận sâu xa vì rằng chúng tôi đã không làm gì hơn để ngăn chặn tội ác này. Khi xẩy ra tội ác này có Quân Đội Liên Hiệp Quốc ở đó. Nhưng đạo quân này lại không nhận được lệnh và cũng không được trang bị những thứ cần thiết để thì hành nhiệm vụ ngăn chặn những hành động tội ác diệt chủng này. Nhân danh Liên Hiệp Quốc, tôi nhìn nhận sự thất bại này và xin bày tổ lòng hối tiếc và ân hận sâu xa của tôi về thảm trạng này."

(Đây là nguyên văn bản tin bằng Anh ngữ"New York.- The United Nations ignored repeated warnings of an impending massacre in Rwanda in 1994, paving the way for an orgy of ethnic killing that left 8000,000 Tutsis and moderate Hutus dead in less than 100 days, in an independent panel reported Thursday.

"The international community did not prevent the genocide, nor did it stop the killing once the genocide had begun," the report said. This stemmed from a "lack of resources and political will" before and after the massacre of Tutsis by the minority Hutus began Aptil 6, 1994.

U.N. Secretary Geneal Kofi Annan, then head of U.N. peacekeeping forces, the United States and Belgium all bear some responsibility for failing to stop the genocide, the investigators said. The report suggested the United States put controlling the cost of peacekeeping operations above saving lives and accused Belgium of pulling its peacekeeping troops out too quickly - at one point abandoning 2,000 people in a technical school and leaving many of them to be murdered.

The findings marked the second time in two months the U.N. has acknowledged failing to stop mass killings that could have been prevented. In an internal report in October, the U.N. accepted blame for the massacre of thousands of Bosnian Moslem men in 1995 in Srebrenia, Bosnia.

"Both reports - my own on Srebrenica and that of the independent inquiry on Rwanda - reflect a profound determination to present the truth about these calamities," Annan said Thursday in a statement. Annan requested the inquiry into the Rwanda massacre in March. The panel, which began work in June, was headed by former Swedish Prime Minister Ingvar Carlson. The 58 page report said the mandate the Security Council gave the U.N. peackeeping force in Rwanda was inadequate and its rules of engagement unclear. It said U.N. officials, including Annan, failed to act after receiving direct evidence of a carefully planned genocide, and former U.N. chief Boutros Boutros-Ghahi did not inform the Security Coincil of the information.

In a statement Thursday, Annan admitted the U.N. stood by during a genocide of the "purest and most evil form."

"All of us must bitterly regret that we did not do more to prevent it. There was a United Nations force in the country at the time, but it was neither mandated nor equipped for the kind of forceful action which would have been needed to prevent or halt the genocide. On behalf of the "U.N.', I acknowledge this failure and express my deep remorse." [26]

Nhìn vào kỹ thuật lừa bịp và mê hoặc tín đồ và người đời, nhìn vào kỹ thuật bóc lột tín đồ và nhân dân dưới quyền, nhìn vào khối tài sản khổng lồ của Giáo Hội La Mã (sẽ được trình bầy đầy đủ ở phần dưới), nhìn vào con số nạn nhân bị Giáo Hội sát hại trên đây trải dài từ năm 235 cho đến 1994 ở khắp mọi nơi có bàn tay Giáo Hội vươn tới, chúng ta có thể khẳng định rằng Giáo Hội La Mã quả thật là một tổ chức chiếm kỷ lục trong lịch sử nhân lọai về thành tích lừa bịp, ăn cướp và giết người, vượt cả không gian và thời gian:

© sachhiem.net

Ghi chú:

[1] Charlie Nguyễn.http:/www.giaodiem.com Ngày 23/4/2001 "Góp Ý Với Quý Vị Trí Thức Ngòai Công Giáo."  Ngày 2 tháng 7 nam 2004.

[2] Hellen Ellerbe,  The Dark Side Of  Christian History (Windermere, FL: Morningstar & Lark, 2004)  p. 46.

[3] Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden, California: Giao Điểm , 1999) trang 72-73.

[4] Charlie  Nguyễn, Công Giáo Trên B? V?c Tham (Garden Grove, CA: Giáo Điểm, 2001), trang 166-169.

[5] Phạm Quốc Sử. "Văn Hóa Đông Nam Á Trong Sự Đồng Hóa Của Phuong Tây".Giao Điểm số 51 Spring 2004:97-98

[6] Nhiều tác giả, Đối Thoại Với Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ II (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 1995), tr 339-340.

[7] Lê Trọng Van,  Lột Mặt Nạ Những Con Thò Lò Chính Trị (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam, 1991), trang 51.

[8] Lloyd Graham,  Deceptions and Myths of the Bible (Secaucus, N.J: Carol Publishing Group, 1999), p. 463.

[9] Malachi Martin. The Decline And Fall Of The Roman Church (New York: G.P. Putnam's Sons,1981), page 44.

[10] Peter de Rosa,.Vicars of Christ  (New York: Crown Publishers, Inc., 1988), p. 94.

[11] Peter de Rosa, Ibid., p 11.

[12] Peter de Rosa,. , trang 38.

[13] Trần Chung Ngọc, Công Giáo Chính Sử (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), trang 203.

[14] Jack.T.Chick., Smokescreens (Chino, CA: Jack T. Chick, 1993) trang 35.

[15] Thomas P. Neil, Story Of Mankind (New York: Holt, Rinehart and Winston Inc., 1968), page 366.

[16] J.T.C., Smokescreens (Chini, CA: Jack T. Chick, 1983), trang 14-17.

[17] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), trang 169.

[18] Trần Chung Ngọc. "Tản Mạn Về Ngày Lễ Tạ Ơn." 21/4/2001. http://www.giaodiem.com. Ngày 19/9/2002.

[19] Avro Manhattan, The Vatican's Holocaust (Springfield, MO: Ozark Book, 1988), page vii.

[20] Avro Manhattan, Vietnam: why did we go?(Chino, CA: Chick Publication,  1984), page 125.

[21] Hoàng Trọng Miên, Ðệ Nhất Phu Nhân - Tâp I (Los Alamito s, CA: Xuân Thu, 1989), trang 428.

[22] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Sudestasie: 1978), trang 130-131.

[23] Avro Manhattan, Vietnam, whu did we go? (Chick Pubication:,1984), trang 117.

[24] Chu  Bằng Lĩnh, Đảng Cần Lao (San Diego, CA: Mẹ Việt Nam,  1993), trang 133.

[25] Tin Tức "Giám Mục Thiên Chúa Giáo Có Thể Bị Tử Hình Tại  Rwanda." http://www.vietdaily.com. Ngày 5/11/2000.

[26] Joe Lauria (The Boston Globe) "U.N.'s inaction blamed for Rwanda killings"  The News Tribune [Tacoma]